Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 30)

PGS TS Cao Văn Liên

24/01/2023 06:09

Theo dõi trên

Trân trọng giới thiệu sách “Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007)” của PGS TS Cao Văn Liên do NXB Thanh niên ấn hành.

Kỳ 30.

Dù thực dân Pháp đã chiếm được Viêt Nam làm thuộc địa, nhưng cuộc đấu tranh liên tục rộng khắp của nhân dân ta làm cho Pháp khó khăn, thiệt hại và khiếp sợ. Chính thực dân Pháp phải thừa nhận: Chúng ta (Pháp) không biết rằng Việt Nam là một dân tộc kiên cường, gắn bó với lịch sử riêng, với những thể chế riêng của mình và tha thiết với nền độc lập. Chúng ta (Pháp) không biết rằng Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước kẻ xâm lược. Tình trạng của chúng ta rất đỗi khủng khiếp vì chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất mà ý chí dân tộc của họ không hề bị suy yếu. (Béc na. Đông Dương sai lầm và nguy hiểm).

d1a-300px-cuu-dinh-trieu-nguyen-1674476264.jpg

Cửu Đỉnh triều Nguyễn. Nguồn: vi.wikipedia.org/

 

 

Năm 1863 thực dânPháp xâm lược Cam pu chia. Năm 1889 Pháp hoàn thành xâm lược Lào. Năm 1887 Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm 3 xứ của Việt Nam và Cam pu chia. Năm 1889 Lào cũng bị sáp nhập vào Liên bang này. Ba nước trên bán đảo Đông Dương từ đó có chung một kẻ thù và bắt đầu cuộc liên minh đoàn kết đấu tranh từ những ngày đó. Năm 1864 Hoàng thân A cha sa của Cam pu chia đã liên minh với Trương Công Định và Thiên Hộ Dương, 1866 Pô Kum Pao liên minh với Trương Quyền. Ở miền Bắc và miền Trung, liên minh chiến đấu Lào -Việt cũng manh nha và phát triển.

Sau khi thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh năm 1858, thực dân Pháp buộc phải thi hành chiến lược đánh lâu dài. Từ Năm 1858 đến năm 1885 Pháp phải mất 25 năm mới hoàn thành việc xâm lược nước ta. Kẻ xâm lược trước kia gặp phải chiến tranh lâu dài đều thất bại nhưng vì sao Pháp lại thành công vào những năm cuối thế kỷ XIX?

Vào thế kỷ XVI đến những năm 50 của thế kỷ XIX giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn phản động suy tàn, chính quyền của giai cấp này  hoàn toàn đối lập với quyền lợi dân tộc, nhân dân. Mọi chính sách của chúng chỉ nhằm một mục đích vì quyền lợi của gia đình, của dòng họ, của tập đoàn cầm quyền. Vì thế,  bộ máy nhà nước sâu mọt ra sức áp bức, bóc lột, cướp đoạt ruộng đất của nông dân để thoả mãn lòng tham không cùng và cuộc sống xa xỉ, sa đoạ. Quyền lực đem lại khả năng cướp đoạt kinh tế, giúp chúng đè đầu cưỡi cổ nhân dân nên các tập đoàn phong kiến lao vào cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực, phá vỡ nền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, huy động nhân tài vật lực vào những cuộc nội chiến kéo dài hàng trăm năm, làm kiệt quệ tiền của và sức lực của đất nước. Quyền lợi của tập đoàn cầm quyền gắn liền với nền kinh tế cũ, cơ chế cũ. Đây là nguồn gốc của tư tưởng, của chính sách bảo thủ “Bế quan toả cảng, trọng nông ức thương”, không giao lưu với các  nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, bóp nghẹt mọi sự ra đời phảt triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa,  khiến cho đất nước bỏ qua cơ hội phát triển theo trào lưu tiến bộ của thời đại, bị giam hãm trong vòng lạc hậu, nghèo đói và suy yếu toàn diện, kể cả về kinh tế,  quốc phòng.

 “Quan bức dân phản’, nông dân cực chẳng đã phải vùng dậy đòi quyền sống mà đỉnh cao là phong trào nông dân Tây Sơn. Phong trào tồn tại 31 năm (1771-1802), lật đổ các tập đoàn phong kiến thối nát Nguyễn -Trịnh-Lê, đánh bại cuộc xâm lăng của Xiêm La (Thái Lan) ở miền Nam (1785), đánh bại cuộc xâm lăng của quân Thanh ở phía Bắc (1789), lập lại nền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Cái  chết của Nguyễn Huệ-Quang Trung năm 1792 là nguyên nhân chính làm cho 10 năm sau nhà Tây Sơn bị Nguyễn Phúc Ánh lật đổ (1802). Vương triều Nguyễn được thành lập.

Với vương triều Nguyễn, giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn mục nát, phản động. Nhà nước vẫn thực hiện những chính sách như những triều đại trước mà còn mang tính chất phản động, tàn khốc hơn, làm cho thế nước càng suy kiệt, càng lạc hậu. Khả năng mất nước được tao ra từ các thế kỷ trước, đến thế kỷ XIX khả năng đó ngày càng to lớn và hiện thực. Vì vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền, tiến lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, thị trường thuộc địa càng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế muốn tồn tại phát triển, muốn thu được nhiều lãi suất, lợi nhuận phải bóc lột toàn thế giới. Muốn vậy phải mở rộng xâm lược thuộc địa. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX pháo hạm các cường quốc tư bản Âu -Mỹ nổ liên tục xâm lược các nước châu Á, châu Phi còn nghèo nàn lạc hậu. Việt Nam nằm vào tầm ngắm của pháo hạm quân viễn chinh Pháp. Năm 1858 pháp đã nổ súng vào Đà Nẵng mở đầu  cuộc xâm lược Việt Nam.

   Giai cấp phong kiến Việt Nam và Vương triều Nguyễn đã tạo ra khả năng mất nước. Nhưng từ khả năng đến hiện thực còn phụ thuộc nhiều yêú tố và có thể khả năng không biến thành hiện thực. Khả năng mất nước khi đó không thành hiện thực nếu như triều Nguyễn  không hèn nhát run sợ đầu hàng, kiên quyết phát động nhân dân kháng chiến. Thực tế lịch sử đã chứng minh, mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến thế kỷ XIX cực kỳ gay gắt, nhưng khi nước bị lâm nguy thì nhân dân, nhất là nông dân sẵn sàng gác mâu thuẫn giai cấp và xả thân vì sự sống còn của tổ quốc. Quân Pháp khi đó có vũ khí hiện đại hơn nhưng khi xâm lược Nam Kỳ và Bắc Kỳ chỉ có vài trăm tên, lúc cao nhất chỉ có vài nghìn tên. Trong khi đó, số lượng quân đội Triều đình hàng vạn, số lượng nghĩa binh hàng nghìn, có đàng sau là cả một dân tộc hàng chục triệu người, thông thạo địa hình, là chủ nhân của đất nước. Triều đình Huế không phát động toàn dân kháng chiến mà cho quân đội án binh bất động, phá hoại kháng chiến của nhân dân. Những thành quả kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ, của nhân dân Bắc Kỳ không được nhà Nguyễn tận dụng phát huy mà còn bị triệt tiêu. Nhà Nguyễn chỉ một mực nhân nhượng, giảng hoà và cuối cùng đầu hàng dâng nước ta cho Pháp, cam tâm bán rẻ quyền lợi dân tộc, làm tay sai cho Pháp để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của tập đoàn. Trách nhiệm mất nước thuộc về toàn bộ giai cấp phong kiến Việt Nam từ  thế kỷ XVI suy vong rồi trực tiếp là Vương triều Nguyễn mà đại diện  là vua Tự Đức (tại vị 1848-1883) và phái chủ hoà gồm các đại thần Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp

   Với chí khí quật cường yêu nước, nhân dân ta đã kiên quyết đứng dậy chống thực dân Pháp ngay từ khi chúng mới sang xâm lựơc. Phong trào dân tộc đã lôi cuốn hầu hết mọi tầng lớp nhân dân tham gia, từ những văn thân, sĩ phu yêu nước trong giai cấp phong kiến, từ đại thần cao cấp như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng đến người lính sĩ tốt bình thường, từ vua Hàm Nghi đến người nông dân áo vải, từ dân tộc Kinh đa số đến đồng bào thiểu số miền núi, từ miền núi đến đồng bằng, từ phong trào bao trùm mấy tỉnh đến phong trào chỉ trong phạm vi một tỉnh một huyện. Nghĩa quân bất chấp quân Pháp có vũ khí hiện đại đã đánh địch bằng mọi thứ vũ khí thô sơ, gây cho địch những tổn thất nặng nề. Pháp phải bình định lại những vùng đã bình định và phải khâm phục ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhưng tất cả những cuộc kháng chiến dù  do những người yêu nước trong giai cấp phong kiến đứng trên lập trường dân tộc mà nổi dậy và lãnh đạo phong trào, hay do lãnh tụ của nông dân lãnh đạo trước sau đều thất bại. Nguyên nhân thất bại chủ yếu là do phong trào yêu nước Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX thiếu một gai cấp tiên tiến lãnh đạo. Những sĩ phu, văn thân dù đứng trên lập trường dân tộc nhưng họ vẫn mang ý thức hệ của giai cấp phong kiến, giai cấp đã hết vai trò lịch sử. Hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời, lạc hậu không giải quyết được nhiệm vụ thời đại đặt ra cho nó là bảo vệ dân tộc và giải phóng dân tộc. Hệ tư tưởng này đã thất bại trước lịch sử. Nông dân là giai cấp cũ. Tư tưởng của nông dân cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ dân tộc và giải phóng dân tộc. Cốt cách của giai cấp cũ biểu hiện trong phương pháp đấu tranh. Các cuộc khởi nghĩa nặng về phòng thủ, mang tính chất địa phương cục bộ, không thể phát triển lên thành phong trào qui mô toàn quốc để biến thành một cuộc chiến tranh qui mô to lớn khả dĩ có thể huy động được sức mạnh toàn dân tộc đè bẹp kẻ thù. Tất cả đã nói lên phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam ngay từ những năm nửa sau thế kỷ XIX đã khủng hoảng đường lối và giai cấp lãnh đạo. Việt Nam trước 1858 cần phải làm một cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, đi lên con đường tư bản chủ nghĩa . Sau năm 1858 Việt Nam còn phải làm thêm cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng những năm cuối cùng của thế kỷ XIX Việt Nam chưa có tiền đề kinh tế,  chính trị,  xã hội, tư tưởng để thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ thành công.

   Tuy thất bại nhưng phong trào giải phóng dân tộc nửa sau thế kỷ XIX nói lên tinh thần bất khuất, quật khởi của nhân dân ta. Máu của các anh hùng liệt sĩ vô danh hay hữu danh trong cuộc chiến đấu chống thực dân xâm lược góp phần tô thắm thêm những trang sử bi tráng của dân tộc trên con đường đi đến độc lập, đi đến chiến thắng ở những thế kỷ sau này.

(Còn nữa)

CVL

Bạn đang đọc bài viết "Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 30)" tại chuyên mục Nghiên cứu. Hotline: 03 6690 8888 | Email: tapchivanhoavaphattrien@gmail.com