Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Kỳ 21)

Trân trọng giới thiệu tiếp "Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử" của PGS TS Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành.       

Kỳ 21

Việt Nam vẫn bị các thế lực tham lam, ích kỷ phản động giam hãm trong vòng lạc hậu với nền kinh tế nông nghiệp tiêu điều, quốc phòng suy yếu, tư tưởng bảo thủ, viễn vông, xa rời thực tế của Nho học. Sự suy yếu lạc hậu của Việt Nam đúng vào thời điểm các nước Âu-Mỹ đã hoàn thành cách mạng tư sản, đẩy mạnh công nghiệp hoá, tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa,  đẩy mạnh việc xâm lược các nước châu Á, châu Phi làm  thuộc địa. Việt Nam đứng trước nguy cơ mất nước trước sự bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa tư bản Phương Tây. 

b1cao-ba-quat-1658395056410-1685265327.jpg

Cao Bá Quát (1808 - 1855) người xã Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, giỏi thơ văn. Ông là nhà thơ xuất sắc của Việt Nam thế kỷ 19. Trong thời gian làm quan, ông nhiều lần bị trách phạt, giáng chức, thậm chí chịu tù ngục do tính tình thẳng thắn cương trực. Năm 1854, ông cùng bạn bè dựng cờ khởi nghĩa Mỹ Lương (Sơn Tây) song cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại, Cao Bá Quát cũng hy sinh. Mặc dù thơ văn Cao Bá Quát sau đó bị cấm lưu hành, song nhiều tác phẩm vẫn được lưu truyền đến nay như Cao Chu Thần thi tập, Mẫu hiên thi loại, v.v

 

 3.   Những cuộc khởi nghĩa nông dân dưới vương triều Nguyễn

 Chính sách bóc lột, thống trị tàn bạo của vương triều Nguyễn làm cho mâu thuẫn giữa nông dân với chế độ phong kiến ngày càng gay gắt. Chưa có một vương triều nào trong lịch sử Việt Nam vừa mới thành lập đã bị nông dân chống lại kịch liệt như vương triều Nguyễn. Ngay từ thời Gia Long từ 1802 đến 1812 khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ khắp từ Nam đến Bắc với 70 cuộc nổi dậy. Đến đời vua Minh Mệnh kế vị Gia Long từ 1820 đến 1840 có 200 cuộc nổi dậy lớn nhỏ. Thời Thiệu Trị từ 1841 đến 1846 chỉ 7 năm có 50 cuộc khởi nghĩa. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821-1827) ở Thái Bình, khởi nghĩa của Nông Văn Vân vốn là tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng). Ông xưng là Tiết chế thượng tướng quân, kêu gọi đồng bào thiểu số chống lại triều đình. Cao Bá Quát nhà Nho, nhà thơ nổi tiếng đương thời đã phất cờ chống lại triều đình năm 1854-1855. Ở miền Nam có cuộc khởi nghĩa lớn của Lê Văn Khôi. Tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị triều đình nhà Nguyễn đàn áp thất bại. Ách thống trị ích kỷ tàn bạo của nhà Nguyễn đẩy nhân dân đối lập với nhà nước. Triều đình Nguyễn mất chỗ dựa là nhân dân và toàn dân tộc.

  4. Văn hoá Việt Nam thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX

 Văn học: Bên cạnh văn học chữ Hán, thế kỷ XVI, XVII, XVIII đánh dấu sự phát triển rực rỡ của văn học chữ Nôm (Nam). Các nhà thơ chữ Nôm nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Đào Duy Từ. Thời gian này còn xuất hiện chuyện dài bằng chữ Nôm: “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ,  chép lịch sử dân tộc bằng thơ chữ Nôm mang tính chất sử thi như “Đại Nam quốc sử diễn ca”, “Thiên Nam ngữ lục” thế kỷ XVI dài tới 8.000 câu thơ lục bát kể truyện từ thời Hồng Bàng tới triều Mạc. Thế kỷ XVIII thơ Nôm của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương nổi tiếng và táo bạo. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (1765-1820) là đỉnh cao nhất của việc dùng chữ Nôm sáng tác thơ ca. “Truyện Kiêù” thành kiệt tác của văn học Việt Nam và văn học thế giới. Xuất hiện truyện dài thơ chữ Nôm không rõ tên tác giả (khuyết danh): Phan Trần, Nhị Độ Mai, Quan Âm Thị Kính, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Hoàng Trừu, Thạch Sanh. Thể thơ lục bát, song thất lục bát đặc biệt phát triển trong các thế kỷ này.

          Bên cạnh việc phát triển của văn thơ chữ Nôm, thơ văn chữ Hán vẫn tồn tại. Nguyễn Du còn là tác giả nhiều bài thơ chữ Hán lỗi lạc, Nguyễn Gia Thiều, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ.

          Thơ văn Hán, Nôm chứa đựng nhiều nội dung phong phú, phản ánh cuộc sống sản xuất và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh cho tự do, công lý, đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, đấu tranh cho tình yêu đôi lứa, nêu lên đạo lý làm người, đức tính thuỷ chung, tín nghĩa. Thơ văn Hán, Nôm mang hơi thở nóng bỏng, gấp gáp của thời đại đầy biến loạn, đau thương, bất công ngang trái. Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn lấy chữ “Nhàn” và chữ “Ẩn” làm chỗ dựa cho tinh thần đang sụp đổ trước sự rối ren của thời cuộc. Thế kỷ XVIII văn học chữ Nôm chiếm ưu thế trên văn đàn, có giá trị bậc nhất về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật. Khuynh hướng hiện thực chứa chan tinh thần nhân đạo phát triển mạnh mẽ. Các tác phẩm tố cáo xã hội đương thời thối nát, chỉ trích mạnh mẽ vua quan, cường hào thối nát, tàn bạo. Các tác phẩm đã đặt vấn đề quyền sống, đòi những giá trị chân chính, đòi giải phóng con người khỏi mọi áp bức, nêu lên những ước mơ, khát vọng chân chính của con người.

           Văn học đã đề cập đến số phận của người phụ nữ tài sắc bị xã hội vùi dập, lên án chiến tranh gây ra bao thảm hoạ đau khổ mất mát cho nhân dân, trong đó đau khổ nhất là ngưòi phụ nữ có chồng đi chinh chiến.

          Bên cạnh văn học chữ viết có giới hạn thì văn học dân gian các thế kỷ XVI, XVII, XVIII vô cùng phong phú về thể loại, nội dung, phản ánh sâu rộng nguyện vọng của nhân dân. Những tục ngữ, ca dao, truyện khôi hài, trào phúng, tiếu lâm đã phản ánh trung thực cuộc sống lao động chiến đấu, tư tưởng tình cảm tâm hồn của người Việt Nam, đúc kết những kinh nghiệm vô giá trong sản xuất, trong đối nhân xử thế, là vũ khí sắc bén của nhân dân trong đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Các truyện “Trạng Quỳnh”, ”Trạng Lợn” nêu lên tài trí của nhân dân. Văn học dân gian khai chiến với toàn bộ giai cấp thống trị, Nho sĩ, quan lại, vua chúa, là đề tài, là nguồn sữa nuôi dưỡng cho văn học viết phát triển trưởng thành. Văn học dân gian thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, sức sáng tạo phong phú của nhân dân.

         Thế kỷ XVI, XVII, XVIII cũng là các thế kỷ phát triển của nghệ thuật dân gian cổ truyền: Ca múa nhạc, tuồng, chèo, trong dân gian có những gánh hát chèo lưu động, hát ả đào, hát trống quân, hát ví, hát cò lả, quan họ (Bắc Ninh), hát xoan (Phú Thọ), hát dậm (Hà Nam), hát giặm (Nghệ-Tĩnh), ca, hò, lý (miền Trung, miền Nam), hát tài tử-cải lương (Nam Bộ). Ca múa nhạc các dân tộc ít người cũng phát triển. Dân tộc Tày-Nùng có hát si, hát lượn, dân tộc Thái có hát khắp, múa xoè; người Tây Nguyên có hát khan. Còn có ca múa nhạc cung đình phục vụ cho triều đình Lê-Trịnh-Nguyễn.

          Cuối Lê, nghệ thuật hội họa, điêu khắc phát triển Vẽ tranh chân dung, tranh sinh hoạt tôn giáo ở các đình chùa. Tranh dân gian với các đề tài sinh hoạt,  sự tích các anh hùng. Nghệ thuật tạc tượng phát triển với trình độ điêu luyện như tượng ở chùa Tây Phương: Tượng Tuyêt Sơn và 18 vị tổ là một điển hình mẫu mực. Kiến trúc các thế kỷ này vẫn kế thừa truyền thống kiến trúc cổ truyền. Tuy nhiên kiến trúc thời Nguyễn mô phỏng nhiều kiến trúc Trung Hoa và pha lẫn kiến trúc vô băng của Pháp.

           Khoa học lịch sử các thế kỷ này đặc biệt phát triển. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn “Đại Việt sử ký toàn thư”, Ngô Gia Văn Phái viết tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí” mô tả sự đổ nát của triều Lê, nêu lên phức tạp của các mâu thuẫn xã hội, mô tả sức mạnh của nông dân đang vùng dậy làm cho cục diện xã hội thay đổi. Các tác phẩm của Phan Huy Chú “Lịch triều hiến chương loại chi”, Lê Quí Đôn: “Phủ biên tạp lục” v. v.  là những tác phẩm tiến bộ, mô tả nhiều mặt của cuộc sống xã hội. Quốc sử quán triều Nguyễn  biên soạn nhiều bộ sử lớn: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, 52 quyển,  “Đại Nam thực lục” gồm 444 quyển.

 (Còn nữa)

CVL